Lớp 12

[Slide] Một số vấn đề chung về dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn


Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học các Hoạt động Giáo dục lớp 9

Thay cho sách giáo khoa hiện hành, học sinh học theo mô hình Trường học mới sử dụng sách Hướng dẫn học, được thiết kế dựa trên chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng chương trình giáo dục phô thông mới. Bộ sách gồm 8 môn học: Toán, Ngữ văn, Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (Lịch sử và Địa lí), Giáo dục công dân, Công nghệ, Tin học, Hoạt động giáo dục (Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật). Mỗi bài học trong sách Hướng dẫn học được biên soạn trên cơ sở sắp xếp lại nội dung sách giáo khoa hiện hành, giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề để có thể tổ chức dạy học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực. Từ vấn đề cần giải quyết đặt ra ở hoạt động "Khởi động", học sinh có nhu cầu "Hình thành kiến thức" để giải quyết vấn đề; "Luyện tập" để thông hiểu và phát triển các kĩ năng; "Vận dụng" vào thực tiễn và "Tìm tòi mở rộng". Mỗi hoạt động của học sinh được thiết kế theo một kĩ thuật dạy học tích cực.

Khi tổ chức dạy học trên thực tế, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo: Cần linh hoạt, chủ động thay đổi tình huống/câu hỏi/lệnh/nhiệm vụ học tập trong hoạt động “Khởi động” phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn của nhà trường, đảm bảo gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh (kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để học sinh chuyển sang các hoạt động tiếp theo); Giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành trong hoạt động “Hình thành kiến thức” (kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập mà học sinh hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng); Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong hoạt động “Luyện tập” (kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/bài tập/tình huống/vấn đề để học sinh ghi nhận và vận dụng”; Đối với hoạt động “Vận dụng” và “Tìm tòi mở rộng”, cần tập trung giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương..., khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học (các hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia. Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp).

Khi tổ chức dạy học, cần lưu ý rằng việc chia nhóm phải linh hoạt, tuỳ theo nội dung bài học, điều kiện lớp học và cơ sở vật chất, đảm bảo tất cả học sinh được hoạt động học tích cực, tự lực, hiệu quả; không nhất thiết phải chia nhóm ở tất cả các bài học. Trong trường hợp phòng học không đủ diện tích để bố trí cho học sinh ngồi học theo nhóm, có thể bố trí học sinh ngồi như lớp học truyền thống để thực hiện các bài học với các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đôi, toàn lớp.

 Trong quá trình biên soạn và triển khai thử nghiệm, các tác giả đã tiếp thu nhiều ý kiến phản hồi và đã hết sức cố gắng chỉnh sửa, hoàn thiện. Tuy nhiên, bộ sách chắc chắn không thể tránh khỏi những điểm còn hạn chế, thiếu sót cần được tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung. Các tác giả bộ sách trân trọng cảm ơn và mong nhận được những ý kiến đóng góp của đông đảo giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để bộ sách ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo./.
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Khoa học Tự nhiên lớp 9

Từ năm học 2012-2013 đến cuối năm 2016, được sự tài trợ của Quỹ hỗ trợ iáo dục toàn cầu (GPE), uỷ thác qua Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Giáo dục và ào tạo đã nghiên cứu, thí điểm và triển khai Dự án "Mô hình Trường học mới iệt Nam", viết tắt là GPE-VNEN. Sau triển khai thành công ở giáo dục tiểu học, hiều nơi đã nhân rộng mô hình lên cấp Trung học cơ sở. Từ 1447 trường tiểu ọc (chủ yếu ở các vùng khó khăn) được Dự án hỗ trợ áp dụng, sau đó được hiều trường tiểu học và trung học cơ sở (chủ yếu ở các vùng có điều kiện kinh tế  xã hội thuận lợi) tự nguyện áp dụng, số trường áp dụng tăng lên hằng năm. Đến ăm học 2016-2017 đã có 4437 trường tiểu học (tăng hơn năm học trước 822 rường) và 1180 trường trung học cơ sở (tăng hơn năm học trước 145 trường) p dụng Mô hình Trường học mới. Hiện nay nhiều địa phương đang xây dựng kế oạch triển khai mở rộng trong năm học 2017-2018.


Để thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, bắt buộc phải đổi ới toàn diện nhà trường về tổ chức, hoạt động và cơ sở vật chất. Riêng về hoạt ộng dạy học, trong điều kiện đang xây dựng chương trình giáo dục phổ thông ới, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo tiếp tục thực nghiệm các giải pháp đổi mới ã và đang triển khai có hiệu quả trong những năm qua, trong đó có việc đổi mới hương pháp dạy học theo yêu cầu tối thiểu đảm bảo các mục tiêu về kiến thức, ĩ năng, thái độ theo chương trình giáo dục hiện hành, đồng thời chú trọng định ướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh (HS), tiệm cận dần chương rình giáo dục phổ thông mới.


Mô hình Trường học mới của Dự án GPE-VNEN đã thử nghiệm thành công rên một số thành tố cần thiết cho đổi mới nhà trường phổ thông trong những ăm tiếp theo. Báo cáo tổng kết Dự án (chỉ xét trong 1447 trường tiểu học) của ộ Giáo dục và Đào tạo, có tham khảo kết quả đánh giá độc lập của Viện Nghiên ứu phát triển Mekong (MDRI), đã khẳng định Mô hình Trường học mới của Dự n đã đáp ứng đúng theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo heo yêu cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hể hiện ở chất lượng học các môn văn hoá của HS tốt hơn do giảm tỉ lệ điểm số thấp, tăng tỉ lệ điểm trung bình, HS phát triển hơn các kĩ năng cần thiết của công ân thế kỉ XXI: làm việc nhóm, lãnh đạo, giao tiếp, tự học, tự chủ... Một số tỉnh  Đồng bằng Bắc Bộ và Đông Nam Bộ cũng đã khảo sát cả ở Tiểu học và Trung ọc cơ sở cho thấy chất lượng các môn văn hoá của HS học theo mô hình dự án ạt cao hơn HS các lớp học truyền thống.


Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi tới Uỷ ban nhân dân các tỉnh, hành phố công văn số 4068/BGDĐT-GDTrH ngày 18/8/2016 Hướng dẫn việc p dụng tự nguyện từng phần hoặc toàn bộ Mô hình Trường học mới Việt Nam. heo đó, xét riêng về phương pháp dạy học, có thể áp dụng với sách giáo khoa iện hành nhưng có gia công của giáo viên (GV) hoặc từ sách giáo khoa hiện ành có thể viết thành phiên bản mới.


Tài liệu này Hướng dẫn cách thức gia công sách giáo khoa hiện hành để dạy heo phương pháp Mô hình Trường học mới đối với loại bài học kiến thức mới: huyển các bài học hiện nay (mỗi bài dạy học trong 1 tiết - 45 phút - thành bài ọc theo chủ đề và quy trình hoạt động học thống nhất). GV cũng có thể sử dụng rực tiếp các bài minh hoạ trong tài liệu này.
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Toán lớp 9

Thay cho sách giáo khoa hiện hành, học sinh học theo mô hình Trường học mới sử dụng sách Hướng dẫn học, được thiết kế dựa trên chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng chương trình giáo dục phô thông mới. Bộ sách gồm 8 môn học: Toán, Ngữ văn, Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (Lịch sử và Địa lí), Giáo dục công dân, Công nghệ, Tin học, Hoạt động giáo dục (Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật). Mỗi bài học trong sách Hướng dẫn học được biên soạn trên cơ sở sắp xếp lại nội dung sách giáo khoa hiện hành, giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề để có thể tổ chức dạy học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực. Từ vấn đề cần giải quyết đặt ra ở hoạt động "Khởi động", học sinh có nhu cầu "Hình thành kiến thức" để giải quyết vấn đề; "Luyện tập" để thông hiểu và phát triển các kĩ năng; "Vận dụng" vào thực tiễn và "Tìm tòi mở rộng". Mỗi hoạt động của học sinh được thiết kế theo một kĩ thuật dạy học tích cực.

Khi tổ chức dạy học trên thực tế, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo: Cần linh hoạt, chủ động thay đổi tình huống/câu hỏi/lệnh/nhiệm vụ học tập trong hoạt động “Khởi động” phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn của nhà trường, đảm bảo gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh (kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để học sinh chuyển sang các hoạt động tiếp theo); Giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành trong hoạt động “Hình thành kiến thức” (kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập mà học sinh hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng); Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong hoạt động “Luyện tập” (kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/bài tập/tình huống/vấn đề để học sinh ghi nhận và vận dụng”; Đối với hoạt động “Vận dụng” và “Tìm tòi mở rộng”, cần tập trung giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương..., khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học (các hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia. Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp).

Khi tổ chức dạy học, cần lưu ý rằng việc chia nhóm phải linh hoạt, tuỳ theo nội dung bài học, điều kiện lớp học và cơ sở vật chất, đảm bảo tất cả học sinh được hoạt động học tích cực, tự lực, hiệu quả; không nhất thiết phải chia nhóm ở tất cả các bài học. Trong trường hợp phòng học không đủ diện tích để bố trí cho học sinh ngồi học theo nhóm, có thể bố trí học sinh ngồi như lớp học truyền thống để thực hiện các bài học với các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đôi, toàn lớp.

 Trong quá trình biên soạn và triển khai thử nghiệm, các tác giả đã tiếp thu nhiều ý kiến phản hồi và đã hết sức cố gắng chỉnh sửa, hoàn thiện. Tuy nhiên, bộ sách chắc chắn không thể tránh khỏi những điểm còn hạn chế, thiếu sót cần được tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung. Các tác giả bộ sách trân trọng cảm ơn và mong nhận được những ý kiến đóng góp của đông đảo giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để bộ sách ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo./.
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Tin học lớp 9

Từ năm học 2012-2013 đến cuối năm 2016, được sự tài trợ của Quỹ hỗ trợ iáo dục toàn cầu (GPE), uỷ thác qua Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Giáo dục và ào tạo đã nghiên cứu, thí điểm và triển khai Dự án "Mô hình Trường học mới iệt Nam", viết tắt là GPE-VNEN. Sau triển khai thành công ở giáo dục tiểu học, hiều nơi đã nhân rộng mô hình lên cấp Trung học cơ sở. Từ 1447 trường tiểu ọc (chủ yếu ở các vùng khó khăn) được Dự án hỗ trợ áp dụng, sau đó được hiều trường tiểu học và trung học cơ sở (chủ yếu ở các vùng có điều kiện kinh tế  xã hội thuận lợi) tự nguyện áp dụng, số trường áp dụng tăng lên hằng năm. Đến ăm học 2016-2017 đã có 4437 trường tiểu học (tăng hơn năm học trước 822 rường) và 1180 trường trung học cơ sở (tăng hơn năm học trước 145 trường) p dụng Mô hình Trường học mới. Hiện nay nhiều địa phương đang xây dựng kế oạch triển khai mở rộng trong năm học 2017-2018.


Để thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, bắt buộc phải đổi ới toàn diện nhà trường về tổ chức, hoạt động và cơ sở vật chất. Riêng về hoạt ộng dạy học, trong điều kiện đang xây dựng chương trình giáo dục phổ thông ới, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo tiếp tục thực nghiệm các giải pháp đổi mới ã và đang triển khai có hiệu quả trong những năm qua, trong đó có việc đổi mới hương pháp dạy học theo yêu cầu tối thiểu đảm bảo các mục tiêu về kiến thức, ĩ năng, thái độ theo chương trình giáo dục hiện hành, đồng thời chú trọng định ướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh (HS), tiệm cận dần chương rình giáo dục phổ thông mới.


Mô hình Trường học mới của Dự án GPE-VNEN đã thử nghiệm thành công rên một số thành tố cần thiết cho đổi mới nhà trường phổ thông trong những ăm tiếp theo. Báo cáo tổng kết Dự án (chỉ xét trong 1447 trường tiểu học) của ộ Giáo dục và Đào tạo, có tham khảo kết quả đánh giá độc lập của Viện Nghiên ứu phát triển Mekong (MDRI), đã khẳng định Mô hình Trường học mới của Dự n đã đáp ứng đúng theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo heo yêu cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hể hiện ở chất lượng học các môn văn hoá của HS tốt hơn do giảm tỉ lệ điểm số thấp, tăng tỉ lệ điểm trung bình, HS phát triển hơn các kĩ năng cần thiết của công ân thế kỉ XXI: làm việc nhóm, lãnh đạo, giao tiếp, tự học, tự chủ... Một số tỉnh  Đồng bằng Bắc Bộ và Đông Nam Bộ cũng đã khảo sát cả ở Tiểu học và Trung ọc cơ sở cho thấy chất lượng các môn văn hoá của HS học theo mô hình dự án ạt cao hơn HS các lớp học truyền thống.


Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi tới Uỷ ban nhân dân các tỉnh, hành phố công văn số 4068/BGDĐT-GDTrH ngày 18/8/2016 Hướng dẫn việc p dụng tự nguyện từng phần hoặc toàn bộ Mô hình Trường học mới Việt Nam. heo đó, xét riêng về phương pháp dạy học, có thể áp dụng với sách giáo khoa iện hành nhưng có gia công của giáo viên (GV) hoặc từ sách giáo khoa hiện ành có thể viết thành phiên bản mới.


Tài liệu này Hướng dẫn cách thức gia công sách giáo khoa hiện hành để dạy heo phương pháp Mô hình Trường học mới đối với loại bài học kiến thức mới: huyển các bài học hiện nay (mỗi bài dạy học trong 1 tiết - 45 phút - thành bài ọc theo chủ đề và quy trình hoạt động học thống nhất). GV cũng có thể sử dụng rực tiếp các bài minh hoạ trong tài liệu này.
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Ngữ văn lớp 9

Mô hình trường học mới (THM) thực hiện theo Chương trình giáo ục phổ thông hiện hành. Nội dung các bài học theo mô hình THM ược xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu về kiến thức, kĩ ăng, thái độ của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, đồng hời phù hợp với việc thực hiện các phương pháp và kĩ thuật dạy học ích cực nhằm phát triển năng lực học sinh (HS).


Tiến trình bài học trong mô hình THM được thiết kế thành các oạt động học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học ích cực như: dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tìm tòi nghiên cứu, hương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học đặc thù ộ môn... Tuy có những điểm khác nhau nhưng tiến trình sư phạm ủa các phương pháp dạy học tích cực đều tuân theo con đường nhận hức chung là : từ vấn đề cần giải quyết – HS phải học kiến thức mới, ĩ năng mới để giải quyết vấn đề – vận dụng, mở rộng kiến thức, kĩ ăng mới vào thực tiễn. Vì vậy, mỗi bài học trong mô hình THM đều ược thiết kế theo 5 hoạt động: Khởi động, Hình thành kiến thức, uyện tập, Vận dụng, Tìm tòi mở rộng. Giáo viên (GV) cần hiểu đúng ản chất của từng hoạt động trong mỗi bài học, trong đó hoạt động ốt lõi là “Hình thành kiến thức” và “Luyện tập” để đảm bảo cho tất cả S phải học được kiến thức mới, luyện được kĩ năng mới theo mục iêu của Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Cụ thể như sau :


Hoạt động khởi động nhằm tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS  thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới. GV sẽ tạo tình uống học tập dựa trên việc huy động kiến thức, kinh nghiệm của bản hân HS có liên quan đến vấn đề xuất hiện trong sách ướng dẫn học gữ văn 9
; làm bộc lộ “cái HS đã biết”, giúp HS bộc lộ quan niệm của ình về vấn đề sắp học để nhận ra “cái chưa biết và muốn biết”. Vì ậy, các câu hỏi/ nhiệm vụ trong Hoạt động khởi động là những câu ỏi/ vấn đề mở, không cần và không thể có câu trả lời hoàn chỉnh. Kết húc hoạt động này, GV không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp S phát biểu được vấn đề để HS chuyển sang các hoạt động tiếp theo hằm bổ sung những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn hiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề.


Hoạt động hình thành kiến thức nhằm giúp HS chiếm lĩnh được iến thức, kĩ năng mới thông qua việc nghiên cứu tài liệu ; tiến hành hí nghiệm, thực hành ; hoạt động trải nghiệm sáng tạo... Kết thúc hoạt ộng này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của HS thể hiện ở các sản hẩm học tập mà học sinh/ nhóm học sinh hoàn thành, GV cần chốt iến thức mới để HS ghi nhớ và vận dụng.


Hoạt động luyện tập nhằm giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, ĩ năng vừa lĩnh hội được thông qua yêu cầu áp dụng trực tiếp kiến hức vào giải quyết các câu hỏi/ bài tập/ tình huống/ vấn đề trong học ập. Kết thúc hoạt động này, nếu cần, GV có thể lựa chọn những vấn ề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/ bài tập/ ình huống/ vấn đề để HS ghi nhớ và vận dụng, trước hết là vận dụng ể hoàn chỉnh câu trả lời/ giải quyết vấn đề đặt ra trong Hoạt động hởi động.


Hoạt động vận dụng nhằm giúp HS vận dụng được các kiến hức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/ vấn ề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương. GV cần gợi ý HS về hững hoạt động, sự vật, hiện tượng cần quan sát trong cuộc sống ằng ngày, mô tả yêu cầu về sản phẩm mà HS cần hoàn thành để S quan tâm thực hiện.


Hoạt động tìm tòi mở rộng nhằm tạo cho HS thói quen không bao iờ dừng lại với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức ược học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp ục học, ham mê học tập suốt đời. GV cần giúp HS tự đặt ra các tình uống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, ận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách hác nhau.


Hoạt động vận dụng và Hoạt động tìm tòi mở rộng không cần tổ hức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả HS phải thực hiện như nhau. V cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều HS tham gia một ách tự nguyện; khuyến khích những HS có sản phẩm chia sẻ với các ạn trong lớp.


Mỗi hoạt động học của HS trong tiến trình trên phải được tổ chức ột cách linh hoạt giữa hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm nhỏ và toàn ớp. Không nên bố trí HS ngồi theo các nhóm cố định mà phải chia hóm theo yêu cầu của hoạt động học. Nghĩa là các nhóm học tập nói hung đều được hình thành một cách linh hoạt theo từng nội dung học ập. Nếu là hoạt động cá nhân, cặp đôi và toàn lớp thì không cần và hông nên bố trí HS ngồi thành nhóm, nhất là trong điều kiện lớp học hông cho phép. Các hình thức làm việc trong nhóm được thay đổi hường xuyên căn cứ vào yêu cầu của sách ướng dẫn học Ngữ văn
 và việc thiết kế hoạt động của GV. Nhìn chung, quy trình tổ chức mỗi oạt động học như sau :


– Làm việc cá nhân : Trước khi tham gia phối hợp với bạn, cá nhân hải tự lĩnh hội kiến thức, chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận. Tần suất ủa các hoạt động cá nhân rất lớn và chiếm ưu thế hơn so với các oạt động khác.


– Làm việc theo cặp hoặc theo nhóm : Sau khi học cá nhân, HS ần được hướng dẫn thảo luận với bạn về nội dung học tập. Tuỳ điều iện cụ thể của lớp học và nội dung học tập, GV quyết định giao cho S thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm để hoàn thành sản phẩm học ập được giao. Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả, mỗi nhóm chỉ nên ó 4 HS.


– Làm việc cả lớp : Trong mỗi hoạt động học, sau khi HS làm việc á nhân, cặp đôi, nhóm, GV tổ chức làm việc chung cả lớp để HS ược trình bày, thảo luận về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập ; nhận ét, đánh giá về sản phẩm học tập của HS ; định hướng hoạt động học iếp theo ; chốt kiến thức, kĩ năng mới để HS chính thức ghi nhận và ận dụng.


Việc lựa chọn hình thức hoạt động cá nhân, cặp đôi, nhóm hay oàn lớp phụ thuộc vào yêu cầu của các loại hình hoạt động và luyện ập. Sách ướng dẫn học Ngữ văn 9
 chỉ là một gợi ý cho việc tổ chức ác hình thức hợp tác này, GV không nên luôn tuân theo một cách áy móc thiết kế có sẵn của sách. Tuỳ vào tình hình thực tế, GV có hể điều chỉnh một cách linh hoạt, tạo hứng thú cho HS trên nguyên ắc đảm bảo mục tiêu bài học.


Khi tổ chức hoạt động học của HS, GV cần chú ý giao nhiệm vụ ọc tập cho các nhóm một cách cụ thể và rõ ràng ; đứng ở vị trí thuận ợi để dễ dàng quan sát các nhóm HS làm việc và có thể hỗ trợ kịp hời cho từng HS và cả nhóm ; hướng dẫn HS ghi tóm tắt kết quả hoạt ộng cá nhân và kết quả thảo luận nhóm vào vở ; không được đọc cho S ghi bài, không yêu cầu HS chép lại toàn bộ nội dung bài học trong ách ướng dẫn học Ngữ văn 9
. Khi giúp đỡ HS, cần gợi mở để HS ự lực hoàn thành nhiệm vụ ; khuyến khích để HS hợp tác, hỗ trợ lẫn hau trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập ; kết hợp nhận xét, đánh iá bằng lời nói ; trong mỗi giờ học cần tranh thủ ghi nhận xét, đánh iá và có thể cho điểm vào vở học của một số HS và luân phiên để mỗi S được ghi từ 2 – 4 lần trong mỗi học kì thay cho việc kiểm tra miệng, 5 phút, 45 phút trước đây.
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Khoa học Xã hội lớp 9

Thay cho sách giáo khoa hiện hành, học sinh học theo mô hình Trường học mới sử dụng sách Hướng dẫn học, được thiết kế dựa trên chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng chương trình giáo dục phô thông mới. Bộ sách gồm 8 môn học: Toán, Ngữ văn, Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (Lịch sử và Địa lí), Giáo dục công dân, Công nghệ, Tin học, Hoạt động giáo dục (Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật). Mỗi bài học trong sách Hướng dẫn học được biên soạn trên cơ sở sắp xếp lại nội dung sách giáo khoa hiện hành, giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề để có thể tổ chức dạy học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực. Từ vấn đề cần giải quyết đặt ra ở hoạt động "Khởi động", học sinh có nhu cầu "Hình thành kiến thức" để giải quyết vấn đề; "Luyện tập" để thông hiểu và phát triển các kĩ năng; "Vận dụng" vào thực tiễn và "Tìm tòi mở rộng". Mỗi hoạt động của học sinh được thiết kế theo một kĩ thuật dạy học tích cực.

Khi tổ chức dạy học trên thực tế, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo: Cần linh hoạt, chủ động thay đổi tình huống/câu hỏi/lệnh/nhiệm vụ học tập trong hoạt động “Khởi động” phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn của nhà trường, đảm bảo gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh (kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để học sinh chuyển sang các hoạt động tiếp theo); Giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành trong hoạt động “Hình thành kiến thức” (kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập mà học sinh hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng); Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong hoạt động “Luyện tập” (kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/bài tập/tình huống/vấn đề để học sinh ghi nhận và vận dụng”; Đối với hoạt động “Vận dụng” và “Tìm tòi mở rộng”, cần tập trung giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương..., khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học (các hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia. Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham
gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp).

Khi tổ chức dạy học, cần lưu ý rằng việc chia nhóm phải linh hoạt, tuỳ theo nội dung bài học, điều kiện lớp học và cơ sở vật chất, đảm bảo tất cả học sinh được hoạt động học tích cực, tự lực, hiệu quả; không nhất thiết phải chia nhóm ở tất cả các bài học. Trong trường hợp phòng học không đủ diện tích để bố trí cho học sinh ngồi học theo nhóm, có thể bố trí học sinh ngồi như lớp học truyền thống để thực hiện các bài học với các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đôi, toàn lớp.

 Trong quá trình biên soạn và triển khai thử nghiệm, các tác giả đã tiếp thu nhiều ý kiến phản hồi và đã hết sức cố gắng chỉnh sửa, hoàn thiện. Tuy nhiên, bộ sách chắc chắn không thể tránh khỏi những điểm còn hạn chế, thiếu sót cần được tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung. Các tác giả bộ sách trân trọng cảm ơn và mong nhận được những ý kiến đóng góp của đông đảo giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để bộ sách ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo./.

Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Giáo dục công dân lớp 9

Từ năm học 2012-2013 đến cuối năm 2016, được sự tài trợ của Quỹ hỗ trợ iáo dục toàn cầu (GPE), uỷ thác qua Ngân hàng Thế giới (WB), Bộ Giáo dục và ào tạo đã nghiên cứu, thí điểm và triển khai Dự án "Mô hình Trường học mới iệt Nam", viết tắt là GPE-VNEN. Sau triển khai thành công ở giáo dục tiểu học, hiều nơi đã nhân rộng mô hình lên cấp Trung học cơ sở. Từ 1447 trường tiểu ọc (chủ yếu ở các vùng khó khăn) được Dự án hỗ trợ áp dụng, sau đó được hiều trường tiểu học và trung học cơ sở (chủ yếu ở các vùng có điều kiện kinh tế - ã hội thuận lợi) tự nguyện áp dụng, số trường áp dụng tăng lên hằng năm. Đến ăm học 2016-2017 đã có 4437 trường tiểu học (tăng hơn năm học trước 822 rường) và 1180 trường trung học cơ sở (tăng hơn năm học trước 145 trường) áp dụng Mô hình Trường học mới. Hiện nay nhiều địa phương đang xây dựng kế oạch triển khai mở rộng trong năm học 2017-2018.


Để thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, bắt buộc phải đổi ới toàn diện nhà trường về tổ chức, hoạt động và cơ sở vật chất. Riêng về hoạt ộng dạy học, trong điều kiện đang xây dựng chương trình giáo dục phổ thông ới, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo tiếp tục thực nghiệm các giải pháp đổi mới ã và đang triển khai có hiệu quả trong những năm qua, trong đó có việc đổi mới hương pháp dạy học theo yêu cầu tối thiểu đảm bảo các mục tiêu về kiến thức, ĩ năng, thái độ theo chương trình giáo dục hiện hành, đồng thời chú trọng định ướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh (HS), tiệm cận dần chương rình giáo dục phổ thông mới.


Mô hình Trường học mới của Dự án GPE-VNEN đã thử nghiệm thành công rên một số thành tố cần thiết cho đổi mới nhà trường phổ thông trong những ăm tiếp theo. Báo cáo tổng kết Dự án (chỉ xét trong 1447 trường tiểu học) của ộ Giáo dục và Đào tạo, có tham khảo kết quả đánh giá độc lập của Viện Nghiên ứu phát triển Mekong (MDRI), đã khẳng định Mô hình Trường học mới của Dự n đã đáp ứng đúng theo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo heo yêu cầu Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hể hiện ở chất lượng học các môn văn hoá của HS tốt hơn do giảm tỉ lệ điểm số 4
thấp, tăng tỉ lệ điểm trung bình, HS phát triển hơn các kĩ năng cần thiết của công ân thế kỉ XXI : làm việc nhóm, lãnh đạo, giao tiếp, tự học, tự chủ... Một số tỉnh  Đồng bằng Bắc Bộ và Đông Nam Bộ cũng đã khảo sát cả ở Tiểu học và Trung ọc cơ sở cho thấy chất lượng các môn văn hoá của HS học theo mô hình dự án ạt cao hơn HS các lớp học truyền thống.


Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi tới Uỷ ban nhân dân các tỉnh, hành phố công văn số 4068/BGDĐT-GDTrH ngày 18/8/2016 Hướng dẫn việc p dụng tự nguyện từng phần hoặc toàn bộ Mô hình Trường học mới Việt Nam. heo đó, xét riêng về phương pháp dạy học, có thể áp dụng với sách giáo khoa iện hành nhưng có gia công của giáo viên (GV) hoặc từ sách giáo khoa hiện ành có thể viết thành phiên bản mới.


Tài liệu này Hướng dẫn cách thức gia công sách giáo khoa hiện hành để ạy theo phương pháp Mô hình Trường học mới đối với loại bài học kiến thức mới : huyển các bài học hiện nay (mỗi bài dạy học trong 1 tiết - 45 phút - thành bài ọc theo chủ đề và quy trình hoạt động học thống nhất). GV cũng có thể sử dụng rực tiếp các bài minh hoạ trong tài liệu này
Lớp 9

Tài liệu hướng dẫn dạy học môn Công nghệ lớp 9

Thay cho sách giáo khoa hiện hành, học sinh học theo mô hình Trường học mới sử dụng sách Hướng dẫn học, được thiết kế dựa trên chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng chương trình giáo dục phô thông mới. Bộ sách gồm 8 môn học: Toán, Ngữ văn, Khoa học tự nhiên (Vật lí, Hóa học, Sinh học), Khoa học xã hội (Lịch sử và Địa lí), Giáo dục công dân, Công nghệ, Tin học, Hoạt động giáo dục (Thể dục, Âm nhạc, Mĩ thuật). Mỗi bài học trong sách Hướng dẫn học được biên soạn trên cơ sở sắp xếp lại nội dung sách giáo khoa hiện hành, giải quyết tương đối trọn vẹn một vấn đề để có thể tổ chức dạy học theo tiến trình sư phạm của các phương pháp dạy học tích cực. Từ vấn đề cần giải quyết đặt ra ở hoạt động "Khởi động", học sinh có nhu cầu "Hình thành kiến thức" để giải quyết vấn đề; "Luyện tập" để thông hiểu và phát triển các kĩ năng; "Vận dụng" vào thực tiễn và "Tìm tòi mở rộng". Mỗi hoạt động của học sinh được thiết kế theo một kĩ thuật dạy học tích cực.

Khi tổ chức dạy học trên thực tế, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo: Cần linh hoạt, chủ động thay đổi tình huống/câu hỏi/lệnh/nhiệm vụ học tập trong hoạt động “Khởi động” phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tiễn của nhà trường, đảm bảo gần gũi với kinh nghiệm sống của học sinh (kết thúc hoạt động này, giáo viên không chốt về nội dung kiến thức mà chỉ giúp học sinh phát biểu được vấn đề để học sinh chuyển sang các hoạt động tiếp theo); Giúp học sinh chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mới theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông hiện hành trong hoạt động “Hình thành kiến thức” (kết thúc hoạt động này, trên cơ sở kết quả hoạt động học của học sinh thể hiện ở các sản phẩm học tập mà học sinh hoàn thành, giáo viên cần chốt kiến thức mới để học sinh chính thức ghi nhận và vận dụng); Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được trong hoạt động “Luyện tập” (kết thúc hoạt động này, nếu cần, giáo viên có thể lựa chọn những vấn đề cơ bản về phương pháp, cách thức giải quyết các câu hỏi/bài tập/tình huống/vấn đề để học sinh ghi nhận và vận dụng”; Đối với hoạt động “Vận dụng” và “Tìm tòi mở rộng”, cần tập trung giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học để phát hiện và giải quyết các tình huống/vấn đề trong cuộc sống ở gia đình, địa phương..., khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài lớp học (các hoạt động này không cần tổ chức ở trên lớp và không đòi hỏi tất cả học sinh phải tham gia. Tuy nhiên, giáo viên cần quan tâm, động viên để có thể thu hút nhiều học sinh tham
gia một cách tự nguyện; khuyến khích những học sinh có sản phẩm chia sẻ với các bạn trong lớp).

Khi tổ chức dạy học, cần lưu ý rằng việc chia nhóm phải linh hoạt, tuỳ theo nội dung bài học, điều kiện lớp học và cơ sở vật chất, đảm bảo tất cả học sinh được hoạt động học tích cực, tự lực, hiệu quả; không nhất thiết phải chia nhóm ở tất cả các bài học. Trong trường hợp phòng học không đủ diện tích để bố trí cho học sinh ngồi học theo nhóm, có thể bố trí học sinh ngồi như lớp học truyền thống để thực hiện các bài học với các hình thức hoạt động học cá nhân, cặp đôi, toàn lớp.

 Trong quá trình biên soạn và triển khai thử nghiệm, các tác giả đã tiếp thu nhiều ý kiến phản hồi và đã hết sức cố gắng chỉnh sửa, hoàn thiện. Tuy nhiên, bộ sách chắc chắn không thể tránh khỏi những điểm còn hạn chế, thiếu sót cần được tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung. Các tác giả bộ sách trân trọng cảm ơn và mong nhận được những ý kiến đóng góp của đông đảo giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để bộ sách ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo./.